Phúc thay những người không thấy mà tin!
🌸 Bài đọc 1 (Cvtđ 2, 42-47)
Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ
42 Thời bấy giờ, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.
43 Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ.
44 Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. 45 Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu.
46 Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. 47 Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.
🌸 Đáp ca Tv 118
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
2Ít-ra-en hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
3Nhà A-ha-ron hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
4Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
13Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã,
nhưng Chúa đã phù trợ thân này.
14Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi,
chính Người cứu độ tôi.
15Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng
trong doanh trại chính nhân :
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
22Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
lại trở nên đá tảng góc tường.
23Đó chính là công trình của Chúa,
công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.
24Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.
Đ.Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
🌸 Bài đọc 2 (1 Pr 1, 3-9)
Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ
3 Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại, 4 để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, 5 là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết.
6 Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. 7 Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. 8 Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, 9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Này anh Tô-ma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” Ha-lê-lui-a.
🌸 Tin Mừng (Ga 20, 19-31)
Tám ngày sau, Đức Giê-su đến.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an
19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”
30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người.
🌸 Học hỏi Lời Chúa (Ban MVPT)
CHÚA NHẬT KÍNH LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
“Ông Tôma thưa Người: ‘Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!’
Đức Giêsu bảo: ‘Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.
Phúc thay những người không thấy mà tin!’” (Ga 20,28-29)
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1: Cv 4,32-35
Trong khoảng 30 năm sau biến cố Phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội thời sơ khai đã tiến triển mạnh mẽ trong Đế quốc Rôma. Sách Tông đồ Công vụ minh định: Kitô giáo không phải là một mối đe doạ chính trị đối với Rôma, nhưng là công trình của Chúa Thánh Thần, Đấng đang kiến tạo một “vương quốc” thiêng liêng, vốn bao gồm tất cả những ai tin vào danh Đức Giêsu Kitô.
Cv 4,32-35 thuộc phần thứ nhất trong Sách Tông đồ Công vụ (1,1–6,7), vốn được thánh Luca viết ra để trình bày cho chúng ta biết về sự tiến triển của Hội thánh tại Giêrusalem và tại Giuđêa sau biến cố Phục sinh của Đức Giêsu Kitô.
Sự tiến triển của Hội thánh thời sơ khai được tô đậm bởi những nét đẹp sau đây:
1) Các tín hữu đông đảo nhưng có sự hiệp nhất (đồng tâm nhất trí).
2) Các tông đồ là những vị lãnh đạo hữu hình: Thiên Chúa ban ơn dồi dào cho các ngài, và các ngài dám can đảm làm chứng cho Đức Kitô.
3) Các tín hữu xem mọi sự là của chung: cộng đoàn có nhiều người quảng đại và trung thực (vd. Ông Barnabas), vì thế không ai trong cộng đoàn gặp cảnh túng thiếu.
Những nét đẹp này tái khẳng định những điều tốt đẹp nơi đời sống cộng đoàn tiên khởi vốn đã được thánh Luca trình bày trước đó ở Cv 2,42-47. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý là cũng có một số thành viên trong cộng đoàn không sống được những nét đẹp này. Câu chuyện có liên hệ đến hai nhân vật Ananias và Sapphira (x. Cv 5,1-11) là một dẫn chứng cụ thể. Thật vậy, sự hiệp nhất trong cộng đoàn ít nhiều đã bị sứt mẻ bởi hai kẻ này, vốn đã giữ lấy một phần tiền cho riêng mình sau khi đã bán một thửa đất. Khi làm như vậy, họ đã không sống được tinh thần quảng đại và trung thực như đã được thể hiện nơi ông Barnabas và nơi nhiều tín hữu khác.
2. Bài đọc 2: 1Ga 5,1-6
Theo truyền thống, thánh Gioan Tông đồ đã viết thư này, có lẽ để gửi cho giáo đoàn tại Êphêsô. 1Ga 2,19 cho chúng ta biết một số kẻ “phản Kitô” đã tách khỏi giáo đoàn. Họ đang tìm cách lôi kéo nhiều người theo lạc thuyết của họ. Thánh Gioan đã viết thư này để giúp giáo đoàn phân định sự thật khỏi sự dối trá, lầm lạc cả trong giáo thuyết lẫn trong cung cách sống.
Những kẻ phản Kitô này không tin nhận Đức Giêsu là Đấng Kitô (x. 2,2). Họ cũng không tin Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến và trở nên người phàm (x. 4,2-3). Thánh Gioan, trái lại, khẳng định: “Ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, thì người ấy đã được Thiên Chúa sinh ra” (5,1). Như thế, việc chúng ta nhận lãnh ơn làm nghĩa tử của Thiên Chúa hệ tại ở niềm tin của chúng ta vào Đức Giêsu là Đấng được Thiên Chúa xức dầu (x. 5,1), là Đấng Cứu Độ (x. 4,9-10.14), và là Con Thiên Chúa (x. 4,15; 5,5). Niềm tin này giúp chúng ta thắng được thế gian (x. 5,4).
Như kẻ làm con phải biết kính yêu cha mẹ mình, thì người được tái sinh trong Đức Kitô cũng phải biết yêu mến và thảo kính đối với Thiên Chúa. Thái độ này được thể hiện cụ thể qua việc chúng ta tuân giữ các lệnh truyền của Thiên Chúa (x. 5,4), vốn giúp chúng ta ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong chúng ta (x. 3,24).
Người yêu mến Thiên Chúa đích thực thì cũng yêu mến anh em mình (x. 5,1b). Không có sự tách biệt giữa việc yêu mến Thiên Chúa và yêu mến con người. Kẻ biết yêu thương thì có sự sống nơi mình. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết (x. 3,14). Nhưng chúng ta không thể yêu thương qua lời nói mà thôi, mà phải qua việc làm cụ thể, như thánh Gioan đã dạy chúng ta: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (3,18).
Tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và với tha nhân, thực ra, chẳng phải tiên thiên đến từ phía chúng ta. Đúng ra, phải nói rằng Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước, đã sai Con Một của Người đến để cứu độ chúng ta (x. 4,10). Nơi cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Giêsu Kitô, chúng ta nghiệm thấy tình yêu của Thiên Chúa dành cho những tội nhân như chúng ta đã lên đến tột đỉnh, đã đạt mức thập toàn. Từ cảm nghiệm Thiên Chúa yêu thương mình hết mức, mà chúng ta thấy cần phải lấy tình yêu đáp đền tình yêu. Tình yêu thương đồng loại cũng phát xuất và được củng cố từ tình yêu thảo kính chúng ta dành cho Thiên Chúa, khi chúng ta nhận biết Thiên Chúa muốn yêu thương hết mọi người.
3. Bài Tin mừng: Ga 20,19-31
Đoạn Tin mừng Chúa Nhật II Mùa Phục sinh năm B nằm trong loạt trình thuật liên hệ đến Ngày Phục sinh của Đức Giêsu (x. Ga 20,1.19): Ngôi Mộ Trống (Ga 20,1-10); Đức Giêsu hiện ra với bà Maria Magdalena (Ga 20,11-19); Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ (Ga 20,19-31).
Trình thuật Ngôi Mộ Trống ghi lại bằng chứng về biến cố Phục sinh của Đức Giêsu, với điểm nhấn nơi “niềm tin” của người môn đệ được Đức Giêsu thương mến. Trình thuật Đức Giêsu hiện ra với các phụ nữ như được thánh Mátthêu trình bày ở 28,9-10 cũng có phiên bản tương ứng ở Ga 20,11-18, với Maria Magdalena là hiện thân của nỗi buồn nơi các môn đệ cũng như niềm vui của họ khi được gặp Đức Giêsu Phục sinh. Cuối cùng, trong Ngày Phục sinh, Đức Giêsu đã hiện ra với các môn đệ, và trong cuộc gặp gỡ này, Ngài đã ban cho các ông Thần khí của Ngài.
Đọc kỹ hơn Ga 20,19-31, chúng ta có thể rút ra những điểm chính sau đây:
1) Đức Giêsu đã hiện ra với các môn đệ và Người đã cho các ông xem tay và cạnh sườn mình, củng cố bằng chứng về việc Người đã thực sự phục sinh (x. c20). Việc hiện ra này cũng để thực hiện lời Người đã nói trước đó với các môn đệ: “Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy” (16,16).
2) Hai lần Đức Giêsu nói “bình an cho anh em” (x. cc19.21), kiện toàn lời Người đã hứa trong lúc nói lời chia tay các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi” (14,27; đ/c 16,33).
3) Việc gặp gỡ Đức Giêsu Phục sinh đã đem lại niềm vui cho các môn đệ, ứng nghiệm lời Người đã tiên báo: “Thật, Thầy bảo thật anh em: Anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (16,20).
4) Đấng Phục sinh thổi Thánh Thần vào các môn đệ. Sự kiện này nhắc nhớ đến St 2,7 khi Thiên Chúa thổi sinh khí vào Adam. Qua quà tặng là Chúa Thánh Thần, Đấng Phục sinh mang lại sức sống mới cho các môn đệ, và qua các ngài, cho toàn nhân loại. Cùng với quà tặng đặc biệt là Chúa Thánh Thần, các môn đệ được ban năng quyền tha tội cho con người.
5) Đấng Phục sinh đã trao sứ mạng của riêng mình cho các môn đệ: “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (c.21). Đấng Phục sinh sẽ sai họ đi theo cùng cách thức Chúa Cha đã sai Người (x. 13,16.20; 17,18).
6) Ông Tôma chẳng dễ tin vào những lời chứng của các môn đệ khác. Ông không chỉ muốn “được thấy Chúa”, mà còn được tự mình kiểm chứng dấu đinh nơi tay và dấu đòng nơi cạnh sườn Chúa (x. c25).
7) Trong lần hiện ra 8 ngày sau đó, Đấng Phục sinh sẵn lòng cho ông Tôma thực hiện những điều ông muốn. Nhưng đồng thời, Người cũng mời gọi ông “đừng cứng lòng, nhưng hãy tin” (x. c27). Dịp này, ông Tôma đã diễn tả đức tin ở tầm mức cao nhất của người môn đệ vào Đức Giêsu: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (c28). Toàn bộ Tin mừng Gioan được viết ra cũng nhằm mục đích này, đó là đưa người đọc đến niềm tin vào Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, để qua đó, họ được sự sống nhờ danh Người (x. c31).
8) “Phúc cho những người không thấy mà tin” là lời chúc phúc Đấng Phục sinh dành cho tất cả chúng ta, là những Kitô hữu đang tin vào Đức Giêsu Kitô không chỉ ngang qua lời chứng vị thánh sử Gioan về Ngôi Mộ Trống, về việc Đức Giêsu hiện ra với nhiều môn đệ, mà còn ngang qua kinh nghiệm thường ngày chúng ta có được với Đấng Phục sinh, được thể hiện qua việc suy niệm và cầu nguyện với Lời Chúa, qua đời sống Phụng vụ và các Bí tích, qua việc tiếp xúc với nhiều người, qua công việc và những môi trường sống khác nhau, v.v.
II. GỢI Ý MỤC VỤ
1. Tại sao các tín hữu thời sơ khai có thể sống được những nét đẹp như được trình bày trên đây? Ai là suối nguồn hiệp nhất cho họ? Tôi thấy mình cần phải noi gương các tín hữu thời sơ khai ở điểm nào? Tại sao và làm thế nào?
2. Đâu là những phẩm chất cần có nơi cộng đoàn tôi đang sống, nơi môi trường đức tin tôi đang thực hành, để khuôn mặt của Đấng Phục sinh có thể được con người hôm nay dễ dàng nhận ra hơn?
3. Không có sự tách biệt giữa lòng mến Chúa và yêu người. Tôi có thể minh hoạ nhận định này thế nào qua kinh nghiệm sống của mình?
4. Thánh Gioan dạy chúng ta: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (3,18). Điều này đã được cụ thể hóa thế nào nơi cuộc đời tôi? Nơi giáo xứ của tôi? Nơi cộng đoàn tu của tôi?
5. Đức Giêsu Phục sinh đến ban bình an cho các môn đệ, đến trao ban Thánh Thần của Người cho họ, đến để củng cố những lời Người đã hứa trước đó, đến để sai các môn đệ ra đi thi hành sứ vụ của Người, đến để cho kẻ cứng lòng tin được dịp kiểm chứng và mời gọi kẻ ấy đặt lòng tin vào Người, đến để nói lời chúc phúc cho những kẻ không thấy mà tin. Trong Mùa Phục sinh này, tôi cảm thấy mình mong đợi Đấng Phục sinh đến để ban cho tôi điều gì? Tại sao?
6. Thiên Chúa đã thể hiện lòng xót thương của Người cho chúng ta thế nào qua biến cố Phục sinh của Đức Giêsu Kitô, qua việc Người hiện ra với các môn đệ? Tôi còn nghiệm thấy Thiên Chúa đang tỏ lòng xót thương đối với tôi qua những cách thức nào khác?
III. LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Chúa Kitô Phục sinh đã hiện ra để củng cố đức tin cho các tông đồ, ban bình an và Chúa Thánh Thần để các ông chu toàn sứ mạng được uỷ thác. Trong tâm tình ngợi khen và cảm tạ Chúa, cộng đoàn chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
1. “Như Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Chúng ta cùng cầu xin cho mọi thành phần trong Hội thánh luôn ý thức và chu toàn sứ mạng loan báo Tin mừng Phục sinh qua những nỗ lực bảo vệ môi trường và sự sống, cùng thực thi công bình bác ái.
2. Bình an là quà tặng của Chúa Phục sinh cho nhân loại. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi người cùng mọi dân tộc trên thế giới được đón nhận bình an và sức sống của Chúa Kitô, tích cực cộng tác xây dựng hoà bình, bênh vực và thi hành công lý.
3. “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”. Chúng ta cùng cầu xin cho những người đang hoang mang trong niềm tin và lạc hướng trong cuộc sống, được Thánh Thần của Đấng Phục sinh nâng đỡ hướng dẫn, luôn sống trong niềm vui và bước đi trong ánh sáng.
4. Chúa Giêsu là dung mạo Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Xin cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta cũng trở nên dấu chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa trong xã hội hiện tại bằng một đời sống yêu thương và dấn thân phục vụ mọi người.
Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng Phục sinh vinh hiển, xin nhậm lời chúng con cầu nguyện và củng cố niềm tin nơi chúng con, để chúng con luôn trung thành bước theo Chúa và can đảm làm chứng cho Ngài giữa thế giới hôm nay. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.